I. Điều kiện tự nhiên: Phường Thạch Quý nằm ở phía Đông thành phố Hà Tĩnh, có diện tích tự nhiên là: 339,48 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm gần 50%. Dân số 2.012 hộ với 8.380 nhân khẩu được chia thành 11 tổ dân phố.

      Vị trí địa lý:

      - Phía Bắc giáp địa phận xã Thạch Hạ, xã Đồng Môn;

      - Phía Nam giáp địa phận phường Văn Yên, phường Tân Giang;

      - Phía Đông giáp địa phận xã Thạch Hưng;

      - Phía Tây giáp địa phận xã Thạch Trung, phường Nguyễn Du.

      II. Di tích lịch Sử: Trên địa bàn phường Thạch Quý có 2 di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh: Miếu Đôi và Nhà thờ họ Trần Hậu.

1. Miếu Đôi: Di tích lịch sử văn hóa Miếu Đôi thời Nguyễn thuộc địa danh thôn Tiền Bạt, xã Trung Tiết, tổng Thượng Nhị, huyện Thạch Hà, phủ Hà Hoa, tỉnh Hà Tĩnh. Nay thuộc địa phận phường Văn Yên, thành phố Hà Tĩnh, Hà Tĩnh. Di tích được phân bố trên một khuôn viên đẹp, thoáng mát, nằm giữa khu vực dân cư đông đúc và trù phú. Phía trước về hướng Đông là dòng sông Cả, vốn dĩ từ xa xưa được coi là một vùng đất địa linh nhân kiệt của Trấn Nam Hà Thành xứ Nghệ. Miếu Đôi được thành lập thờ thành hoàng là những danh nhân lịch sử có công khai khẩn đất đai, chiêu dân lập ấp, mở mang bờ cõi biên giới phía tây nam của quốc gia Đại Việt. Theo truyền ngôn, gia phả các dòng họ và các cụ cao niên ở địa phương thì Miếu Đôi thờ Lý Nhật Quang, ông là một nhà chính trị, một tướng lĩnh tài ba, con thứ 8 của vua Lý Thái Tổ, một hoàng tử lỗi lạc của Vương triều nhà Lý được phong tước Uy Minh Vương.

Năm 2006, Miếu Đôi đã được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp Tỉnh.

      Miếu Đôi được xây dựng quy mô lớn trên diện tích 1725m2, từ ngoài vào di tích là bức tắc môn xây bằng xi măng, vẽ hình con hổ cao 1,2m rộng 2,2m. Tiếp đến là sân nhà bái đường, nền xi măng có diện tích 6m x 7m. Nhà Bái đường được trùng tu năm 2017. Tiếp sau nhà bái đường là kiệu cộng đồng đặt chính giữa. Hai phía 2 bên của miếu cộng đồng là miếu thờ quan văn và quan võ. Mỗi miếu cao 2,3m, rọng 1,1m dài 1,7m. Phần chính trong cùng của miếu là 2 miếu thờ Lý Nhật Quang và Tô Hiến Thành. Mỗi gian cao 3,6m, dài 4,7m, rộng 3m. Phía bên trái của 2 miếu chính là thờ Tam Quận Công. Bên trái gian thờ Quận công là nền tế thần nông.

      2. Nhà thờ họ Trần Hậu:

      Nhà thờ họ Trần Hậu từ trước đến nay là nơi lưu giữ những giá trị tinh thần to lớn, những di vật của tổ tiên dòng tộc Trần Hậu trong suốt gần 500 năm qua. Hàng năm, vào các dịp tết Nguyên đán, rằm tháng Giêng, ngày giỗ tổ ngày 15/8 âm lịch,  rằm tháng giêng, rằm tháng Bảy con cháu lại tụ tập về tại nhà thờ làm lễ tế chung để thể hiện lòng thành kính đối với tổ tiên.

     Nhà thờ họ Trần Hậu  phường Thạch Quý, Thành phố Hà Tĩnh với sự tồn tại trong suốt chiều dài 387 năm, tượng trưng cho một dòng họ bền vững, lâu đời; một tòa điện dành cho linh hồn của các bậc Quận công, tướng lĩnh, những bậc tiền bối yêu nước, một lòng phụng sự nhân dân qua các thời kỳ lịch sử của dân tộc. Để rồi! khi đi xa, mỗi người con tìm về thắp nén hương thơm để được các bậc tiền bối hiển linh tiếp thêm sức mạnh trên những chặng đường đi tới tương lai. 

Và cũng như những dòng tộc khác, di tích Lịch sử− Văn hóa nhà thờ họ Trần Hậu cũng được coi như điểm hội tụ, thờ cúng tổ tiên, ông bà, những người anh hùng, những danh nhân, những người có công với đất nước, làm lưu danh dòng họ trong sử vàng của dân tộc. Nhà thờ luôn có một vị trí đặc biệt trong thế giới tâm linh, bởi đó là nơi giúp họ nhớ lại những đỉnh cao vinh quang của dòng tộc, những tấm gương sáng của tổ tiên, là nơi nguyện cầu những ước vọng của mỗi con người. Đồng thời thể hiện truyền thống "Uống nước nhớ nguồn”, “nhân hậu thuỷ chung”, “đoàn kết tương thân tương ái”, “hiếu học”, sẵn sàng hy sinh vì đất nước, vì dân tộc, lao động cần cù, sáng tạo... của dân tộc nói chung và dòng họ Trần Hậu Thạch Quý nói riêng.

Nhà thờ họ Trần Hậu tọa lạc trên khu đất rộng 508,5 m2 thuộc thửa đất số 383, tờ bản đồ địa chính số 19. Nhà thờ gồm hai tòa thượng điện và hạ điện có diện tích sử dụng 101m2.

Nhà thờ họ Trần Hậu thuộc thôn Tiền Bạt, xã Trung Tiết, phủ Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, nay thuộc tổ dân phố Tiền Tiến, phường Thạch Quý, Thành phố Hà Tĩnh, do con cháu dòng họ Trần Hậu xây dựng vào năm 1632. Để thờ tự các vị Tiên tổ của dòng họ và các vị tiền bối đã có nhiều công lao đối với quê hương, đất nước, được các triều đại Lê sơ, Lê Trung Hưng, thời Tây Sơn, thời Nguyễn ban phong sắc chỉ, bằng cấp ghi nhận vì đã có công đánh giặc, giành lại non sông đất nước trong cuộc chiến Nam – Bắc Triều (thời Lê - Mạc) và thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh…Hiện nhà thờ được xây từ thời đó đang còn được giữ nguyên trạng, trước cửa nhà thờ còn giữ nguyên được câu đối thời bấy giờ, với nội dung:

     Di tích nhà thờ họ Trần Hậu là một di tích lịch sử văn hóa có giá trị, là nơi đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng tâm linh, nơi để con cháu thể hiện tinh thần uống nước nhớ nguồn, lưu giữ và phát huy truyền thống lịch sử của dòng họ, thỏa mãn tâm lý hướng về cội nguồn, hiểu về nơi sinh thành của cha ông, về quá trình đấu tranh lao động gây dựng sự nghiệp lâu dài cho thế hệ mai sau. Tất cả những yếu tố đó đã góp phần quan trọng vào việc định hướng và giáo dục con cháu tiếp nối nhau phát huy truyền thống văn hóa, yêu nước và cách mạng, để rồi tiến bộ hơn trong cuộc sống, trong công việc…

Việc nhà thờ dòng họ Trần Hậu được xếp hạng di tích Lịch sử văn hóa tạo điều kiện để dòng họ bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị có hiệu quả tốt nhất. Các loại hiện vật gốc gồm gia phả cổ, các đạo sắc, bằng cấp, …còn giữ tại di tích là nguồn tư liệu hết sức quý giá, có giá trị nghiên cứu về lịch sử văn hóa của dòng họ nói riêng và địa phương phường Thạch Quý, TP Hà Tĩnh nói chung. 

Trải qua thời gian dài hơn 387 năm, với những nét kiến trúc, vật liệu xây dựng, cùng với các câu đối khắc ghi tại nhà thờ cũ, cuốn Gia phả cũ được ghi chép từ năm 1533 đến 1847, cho thấy dòng họ Trần Hậu có ở  trên vùng đất  này có lịch sử gần 400 năm. Từ trước đến nay, nhà thờ do con cháu trong dòng tộc trông nom bảo vệ. Nhưng do hiện tại với diện tích nhà thượng điện, khuôn viên di tích không đủ chỗ cho con cháu tề tựu cùng lúc tại nhà thờ để thắp hương thờ cúng tổ tiên. Năm 2016, 2017 con cháu dòng họ đã góp công của để mua thêm đất xung quanh nhằm mở rộng khuôn viên nhà thờ; đồng thời xây thêm nhà thờ mới to hơn, khang trang hơi. Hiện Nhà thờ mới và nhà thờ cũ cùng nằm trong cùng khuôn viên. Mặt nhà thờ cũ hướng về Nam, nhà thờ mới hướng về hướng tây. Nhà thờ cũ được con cháu sử dụng làm nhà bảo tàng lưu giữ các kỷ vật, bảo vật của ông cha và là nơi sẽ đặt các tấm bia đá khắc ghi công trạng của các bậc tiền bối và những người có công lớn trong kiến tạo và đóng góp xây dựng nhà thờ hôm nay… 

            Ngày 11/02/2020 nhà thờ họ Trần Hậu được UBND tỉnh Hà Tĩnh công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh theo Quyết định số 543/QĐ-UBND.

          3. Chùa Khang Quý:

Chùa Khang Quý ngày xưa thuộc xã Trung Tiết, phủ Thạch Hà. Sau ngày xã Trung Tiết chia thành 4 xã: Xã Thạch Hưng, xã Thạch Yên (nay là phường Văn Yên), xã Thạch Phú (nay là phường Hà Huy Tập), xã Thạch Quý (nay là phường Thạch Quý). Xã Thạch Quý có 4 thôn: Tiền Bạt, Hậu Thượng, Trung Hậu, Khang Quý; trong đó Khang Quý được thành lập 5 xóm: Bắc Quý, Tâm Quý, Trung Quý, Đông Quý và Nam Quý. Ngôi chùa được xây dựng trên địa bàn xóm Bắc Quý (nằm trong quần thể đền chùa) có diện tích theo số liệu bản đồ 299 năm 1981 là 19.970m2 (ghi đất vườn ươm) số liệu bản đồ 371 năm 1994 là 7.736m2 (ghi đất chùa). Phía bắc là Đền, phía nam là nhà Thánh (Hoàng làng); cạnh đó là  nhà Thần Nông, tiếp đến nhà chùa (thờ phật) và giếng chùa hiện nay vẫn còn. Đền chùa được xây dựng rất uy nghiêm và rất linh thiêng, cây cối rất rậm rạp và có nhiều loại cây. Mỗi năm được tổ chức các lễ tết, rằm tháng giêng, rằm tháng 7... và có 2 lễ chính đó là lễ: Lục ngoạt vào ngày 12/6 (âm lịch) tế Thần nông, lễ Trập bụt vào ngày 8/4 (âm lịch) ngày bụt sinh, trùng với lễ Phật Đản.

Theo các cụ cao tuổi ở khối phố Bắc Quý, nhân dân trong và ngoài khối phố  kể lại diện tích đền chùa rất rộng, các đền chùa xây dựng (gần 300 năm) rất khang trang và uy nghiêm. Phía bắc (gần đường đi về xã Thạch Môn) là nhà đền có: Thượng Điện, Trung Điện, Hạ Điện, Ấp Bái, Bái đường (nơi họp làng). Phía trước đền: Chính giữa là cổng chính, 2 bên cổng chính là 2 ông tướng và 2 cửa phụ, kế bên có 2 con ngựa. Tiếp đó là nhà Thánh (Hoàng làng); đến nhà Thần nông và cuối cùng là nhà thờ phật (gọi là chùa) hiện nay đang còn đó. Trong các nhà có giáo gỗ, kiệu rước, cờ, trống.v.v.dùng trong các dịp lễ, tết. Diện tích đất phía trước được chia làm 3 khoảng: Phía bắc gọi là ruộng Thánh, khoảng giữa gọi là ruộng tế Thần Nông, phía trong cùng gọi là ruộng phật. Số ruộng này hàng năm các cụ luân phiên canh tác, phần hoa lợi phục vụ cho làng mỗi khi có dịp lễ, lúc đó đền chùa còn nguyên vẹn hưng thịnh. Các cụ kể rằng bên cạnh chùa (nhà thờ phật) có cây mập muổng (nay gọi là cây xoài) cao nhất vùng và cây giới mà dân làng gọi là cây giới mồ côi, hiện nay vẫn còn. Ở đó lại có giếng chùa, nước rất trong dùng để ăn uống. Đến mùa hạn nhân dân 4 xã: Thạch Quý, Thạch Hạ, Thạch Hưng, Thạch Môn, Thạch Đồng đến lấy nước về dùng. Ở dưới lòng giếng có 1 đĩa sứ to, lúc nào vét giếng nếu thấy và chạm vào đĩa thì phải dừng lại.

Theo lời và tài liệu của cụ Thái Kim Đĩnh – nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử nghệ tĩnh, người chuyên nghiên cứu và viết về dư địa chỉ Hà Tĩnh cho biết: Ở thôn Khang Quý, xã Trung Tiết - phủ Thạch Hà vào thời nhà Nguyễn đã có 1 ngôi chùa , nằm trong khuôn viên quần thể chùa – đền Khang Quý, hiện nay ngôi chùa mà người dân vẫn thường quen gọi là nhà Phật (chùa thờ phật) nay còn lưu lại 2 câu đối bằng chữ Quốc ngữ có nghĩa: “Toàn dân nhớ đến nhang lòng thành, kính chào đạo phật thánh linh thiêng”. 4 chữ Hán là: “Thượng cỗ dị lai” có nghia là: “Từ ngàn xưa cho đến nay”. Đặc biệt là di tích giếng chùa không biết xây dựng từ bao giờ mà ai cũng quen gọi là “giếng chùa”. Lòng giếng xây dựng bằng đá tròn to, rộng, đẹp và đây là nơi làng lấy nước về dùng ăn uống, nhất là đến mùa hè hàng năm nước giếng ở chùa này phục vụ cho nhiều xã lân cận. Có mạch nước ngầm nên khi nào vét phải nút lại, đến lúc vét xong mới xã (di tích giếng chùa là những minh chứng cho ta khẳng định ngôi chùa Khang Quý là 1 trong 15 ngôi chùa xưa của Thành phố Hà Tĩnh mà sử sách đã ghi chép lại còn để lại được di tích và giấu ấn hiện nay).

Trải qua thời gian thăng trầm của lịch sử, đến năm 1949 các đồ tế lễ và pháp khí của chùa, đền được huy động để chế làm vũ khí chống giặc Pháp.

Năm 1952 chợ tỉnh Hà Tĩnh sơ tán dời về họp chợ tại chùa. Do đặc thù của chợ nên phải chặt phá 1 số cây cổ thụ để làm lều quán. Lúc đó đời sống nhân dân đang nghèo nên việc thờ cúng và sửa chữa nâng cấp bị lãng quên.

Năm 1959 do nhu cầu sinh hoạt của nhân dân cơ sở kho tàng cần phải xây dựng và việc nhận thức bảo vệ đền chùa còn hạn chế, nên đền, nhà Thần nông, nhà Thánh đã bị tháo gỡ, chỉ còn lại phần chùa (thờ phật) hiện nay còn đó.

Năm 1962 vườn chùa được sử dụng làm vườn ươm cây của cơ quan lâm nghiệp huyện Thạch Hà.

Khoảng vào năm 1965 sau khi lâm nghiệp Thạch Hà giải thể không ươm cây nữa, hợp tác xã nông nghiệp thành lập vườn ươm cây phi lao, bạch đàn giao cho hội phụ lão và 1 số người ở xóm Bắc Quý làm và quản lý.

          Hiện nay Chùa Khang Quý là nơi sinh hoạt tôn giáo của Ban trị sự Phật giáo Việt Nam – Thành phố Hà Tĩnh

Bản đồ hành chính
 Liên kết website
Thống kê: 68.724
Online: 8